Một số hoạt chất trị mụn dùng ngoài da

26 Th8 2018 BEAUTY BOX

Acid azelaic

Acid azelaic là một thành phần được tìm thấy trong nhiều loại ngũ cốc nguyên hạt và sản phẩm có nguồn gốc động vật. Acid azelaic là một acid dicarboxylic béo nổi tiếng và nó đã được sử dụng trong nhiều thập kỷ trong việc điều trị mụn trứng cá. Các dạng sử dụng kem acid azelaic 20% đơn trị liệu hoặc phối hợp điều trị với acid glycolic, gel acid azelaic 20% hoặc 15%, gel acid azelaic 5% kết hợp với clindamycin 2% hoặc erythromycin 2% đều cho thấy hiệu quả trong điều trị mụn.

Kem acid azelaic 20% có thể làm giảm số lượng của cả hai tổn thương viêm và không viêm và có tác dụng tương đương với tiêu chuẩn được chấp thuận với phương pháp điều trị khác, bao gồm benzoyl peroxide và erythromycin, cũng như tretinoin, nhưng được dung nạp tốt hơn và ít tác dụng phụ hơn.

Azelaic acid có khả năng cạnh tranh và vô hiệu hóa sự hoạt động của enzym ty lạp thể oxidoreductases và 5-alpha-reductase. Các cơ chế tác dụng của acid azelaic trong điều trị mụn trứng cá có thể liên quan đến tác dụng ức chế của nó trên oxidoreductase ty thể và tổng hợp AND. Nó có hoạt tính kháng khuẩn chiếm ưu thế trên P. acnes bằng cách ức chế tổng hợp protein và có hiệu lực ly giải nhân mụn vừa phải bằng cách ức chế sự tăng sinh và biệt hóa của tế bào sừng, cũng như hoạt động như một chất chống viêm. Tính chống viêm hoạt động nhờ đặc tính ức chế phóng thích các tiền chất gây viêm từ bạch cầu trung tính. Nó cũng có thể làm giảm sản xuất bã nhờn trên trán, cằm và má qua tác dụng ức chế trên việc chuyển đổi từ testosterone thành 5 dehydrotestosterone.

Các tác dụng phụ của acid azelaic đều nhẹ và thoáng qua. Khoảng 5% đến 10% người dùng sẽ có cảm giác nóng hoặc cảm giác châm chích, đau thắt trên da và ban đỏ ở vùng điều trị nhưng điều này thường chỉ kéo dài trong một vài tuần. Ngoài ra, ác dụng phụ gây giảm sắc tố nên cần thận trọng ở những người da đen.

Acid azelaic được Cục Quản lý thực phẩm dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) xếp loại B trong nhóm hoạt chất sử dụng được trong thai kỳ do thuốc hấp thu tối thiểu khi sử dụng tại chỗ và không đáng lo ngại. Mặc dù vậy, acid azelaic vào được sữa mẹ nên cần thận trọng ở các bà mẹ cho con bú.

Acid salicylic

Acid salicylic đã được sử dụng trong nhiều năm qua để điều trị mụn trứng cá. Acid salicylic là một thành phần của hầu hết các chế phẩm điều trị mụn không kê đơn. Nồng độ của nó thay đổi từ 0,5% đến 3,0% và có chứa trong các loại chất rửa, kem và lotion. Acid salicylic đơn trị hoặc điều trị kết hợp với benzoyl peroxide hoặc clindamycin phosphate có thể cải thiện các tổn thương mụn trứng cá. Peel acid salicylic 20% hoặc 30% hoặc peel acid salicylic 20%, acid mandelic 10% cũng thường được sử dụng cho

điều trị mụn. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng acid salicylic bôi có tác động từ nhẹ đến trung bình trong khắc phục đối với cả hai tổn thương viêm và không viêm do mụn. Nó được chấp thuận sử dụng ở trẻ em bị mụn trứng cá.

Acid salicylic hữu trong hoạt động ly giải sừng và ly giải nhân mụn. Nó có thể phá vỡ các nang sừng thông qua ly giải chất kết dính giữa các tế bào lớp sừng và thúc đẩy quá trình bong các biểu mô tuyến bã. Acid salicylic cũng có khả năng chống viêm, ảnh hưởng đến những tác động của acid arachidonic.

Khi được sử dụng ở nồng độ 2% hoặc cao hơn, acid salicylic có thể gây lột da tại chỗ và gây khó chịu ở một mức độ nhất định. Acid salicylic được FDA xếp loại C trong nhóm các hợp chất dùng trong thai kỳ. Hiện nay tuy vẫn chưa có nghiên cứu về khả năng bài tiết vào sữa mẹ của acid salicylic, tuy nhiên vẫn nên tránh sử dụng acid này trong thời kỳ cho con bú.

Lưu huỳnh

Lưu huỳnh dùng tại chỗ có nồng độ từ 1% đến 10% đã được sử dụng trong điều trị mụn trứng cá trong nhiều thập kỷ qua. Lưu huỳnh có thể được sử dụng dưới hình thức lotion, kem, thuốc mỡ và xà phòng. Khi sử dụng cùng với benzoyl peroxide hoặc natri sulfacetamide, lưu huỳnh có hiệu quả điều trị tốt hơn trên mụn.

Cơ chế tác động có thể là do lưu huỳnh gây ly giải tế bào sừng và ức chế sự gia tăng của P. acnes. Người ta cho rằng lưu huỳnh tương tác với cysteine ​​trong keratinocytes dẫn đến việc sản xuất hydrogen sulfur có tác dụng ly giải sừng bởi vỡ các liên kết disulphide của cysteine trong các phân tử trong chất sừng. Tác dụng phụ thường thấy trong quá trình sử dụng lưu huỳnh bôi ngoài da gồm khô và ngứa da. FDA xếp lưu huỳnh vào nhóm C trong những chất dùng được ở thai kỳ. Sự ảnh hưởng của chất này đến sữa mẹ vẫn chưa được tìm hiểu rõ, vì vậy nên hạn chế sử dụng lưu huỳnh trong thời kì cho con bú để đảm bảo an toàn cho con bạn.

Trả lời

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Search

+